Bumar – Phần IV – Bagan – Miền đỏ lửa

Bagan tháng 9 như vị á thần kiêu ngạo giữa con thịnh nộ của lão thần già, trước những trò ngông của đứa con mà lão nuông chiều nhất. Những con đường vẫn cuốn đầy bụi, ánh nắng vàng gay gắt vẫn như thiêu đốt da người, những ngôi đền vẫn hừng hực đỏ lửa, giữa cổ tích và thời gian. Lão thần tức giận, không cho ánh dương của bình minh và hoàng hôn ghé xuống nơi này, chỉ còn lại một bầu trời loang lổ toàn mây đen.

198

————————————-

Thật chẳng thể hiểu nổi tại sao trên đời này lại có một gã ngốc như Karl Pilkington*! Anh ta bất bình khi đóng gạch vỡ của Vạn Lý Trường Thành được người ta gọi là kỳ quan thế giới. Anh ta cười vào cái sự hùng vĩ của kim tự tháp giữa bao la những gạch cát vương vãi, bao rác bay tung tóe. Anh ta chế nhạo khách du lịch khi họ thay phiên nhau xếp hàng để được ngồi vào chiếc ghế đặt trước ngôi đền Taj Mahal, nơi trước đây công nương Diana đã từng ngồi chụp ảnh… Anh ta có thật sự ngu ngốc! Hay đó là một kịch bản quá chi tiết!

* Nhận vật trong chương trình truyền hình thực tế An Idiot Abroad của Anh, đã xuất bản vài cuốn nhật ký hành trình sau khi thực hiện chương trình.

Xin phép không nói về tính chân thật của chương trình này. Nếu chỉ dựa trên những suy nghĩ và hành động mà Karl đã thể hiện, thì có thể nói, anh ta đang đi ngược với “số đông”. Thay vì tròn mắt kinh ngạc bởi những gì đang diễn ra trước mắt, những giá trị lịch sử và sự phi thường của con người chứa đựng trong những hình hài mà người ta gọi là kì quan, thì Karl lại chú ý đến những cái vụn vặt ở xung quanh, những cái xô bồ của cuộc sống hiện tại.

Người ta đang bị huyễn hoặc bởi cái triết lý “đừng đi theo số đông” mà giới truyền thông đang khai thác triệt để, để cổ vũ cho một lối sống mới, tự do, phóng khoáng, dám nghĩ dám làm của người trẻ. Kiểu như, đừng sợ trải nghiệm mà hãy xách giỏ lên, đi khám phá thế giới. Đến khi càng ngày càng nhiều người “nghiệm” ra cái triết lý đó, thì ai cũng đi, ai cũng muốn thể nghiệm, chẳng hóa ra nó lại trở thành một “số đông” khác! Karl đã bị Ricky và Stephen đẩy vào cái số đông này, nhưng không có nghĩa là suy nghĩ của anh ta cũng bị áp đặt theo. Thế là, anh ta không phải là người bình thường, cũng không trở thành phi thường, mà bị coi là dị thường, là ngu ngốc. Và người ta đã lấy sự ngu ngốc đó để mà mua vui cho bản thân.

Con người thật phức tạp. Đặt ra đủ thứ các điều hay ho và hướng mọi người đi theo. Nhưng khi người ta đi theo, không theo “cách họ mong muốn” thì lại bị cười chê và đánh giá. Nó chợt tò mò, nếu Karl đến Bagan thì anh ta sẽ nói gì nhỉ?

————————————–

Vào thời thịnh vượng khoảng thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 13, có đến hơn 10,000 ngôi chùa, đền đài và tu viện Phật giáo được xây dựng tại Bagan. Bây giờ, vùng đất này đã trở thành một khu khảo cổ rộng lớn, chỉ còn hơn 2,200 công trình sót lại. Thế nhưng, con số đó đã đủ nhiều để không ai buồn nhớ tên hết cái phần còn sót lại đó.

Bagan chào đón chúng nó bằng một cú lừa của sự kém hiểu biết. Tầm 4 giờ sáng, cả bọn có mặt tại bến xe, bị vây quanh bởi muôn kiểu tài xế như thường lệ. Sau một hồi chọn mặt gửi vàng và kì kèo trả giá, bọn nó đã quyết định chọn một chiếc xe 12 chỗ để đến nhà trọ với giá 6,000 kyat (~ $6), để rồi phát hiện ra đó là một khoảng chi ngu cho đoạn đường chỉ hơn 2 phút đi xe và hơn 10 phút đi bộ. Hơi bất ngờ về Bagan một chút. Tắm rửa vội vã, bắt một chiếc xe ngựa để kịp ngắm bình minh, chúng nó lại tiếp tục đón một cú lừa thứ 2. Sau khi đã đồng ý với giá 8,000 kyat để đến ngôi đền Shwesandaw, lúc về nhà trọ, lão phu xe lật lọng, bảo lúc sáng 2 bên đã đồng ý là 10,000 kyat và nhất quyết không chịu thối tiền. Phải đứng đôi co một hồi, lão mới chịu trả lại 1,000 kyat, cả bọn cũng đành chấp nhận bỏ qua. Dù gì thì cũng đã mãn nhãn với một buổi sáng không bình minh đầy mê hoặc của Bagan.

Shwesandaw (Shwesandaw Pagoda/ Paya) không phải là ngôi đền cao nhất trong quần thể các đền tháp ở Bagan, nhưng lại có vị trí đẹp nhất để ngắm nhìn mặt trời hoàn thành quỹ đạo của nó trên vùng đất này. Đền được xây theo hình khối kim tự tháp, 4 mặt đều có đường lên với những bậc thang cao và hẹp. Bọn nó là những người đầu tiên có mặt trên đỉnh Shwesandaw sáng hôm ấy, một buổi sáng tĩnh mịch. Cả vùng đất huyền thoại chìm trong bóng tối. Chỉ có ngôi đền Ananda và That Byin Nyu sáng rực trong ánh đèn vàng, xung quanh nhấp nhô vài cái bóng đen kịt của những ngôi đền chưa được biết tên. Mỗi đứa bọn nó đều chọn cho mình một góc, nhằm về hướng Đông, gia cố chiếc máy hình tại một vị trí chắc chắn, canh chỉnh sẵn sàng, rồi chờ khoảnh khắc kì diệu khi ánh mặt trời xuất hiện ở phía xa, vẽ những đường nét mượt mà lên những cảnh vật chưa được ló dạng. Khách du lịch bắt đầu đông dần. Trong chốc lát, các hành lang đã đầy kính toàn người. Họ không nói gì, im lặng, cùng nhau nhìn về một hướng. Và rồi, mặt trời đã không đáp trả lòng mong đợi của lũ người nhỏ bé đó. Chỉ có một thứ ánh sáng trắng, dần dần phủ xuống, rồi sáng lên. Tiếng máy lách tách bên tai, rồi tắt dần, nhường lại cho những ánh mắt kinh ngạc, nhẹ tênh, trông về xa xôi và tận hưởng.

077

078 081

Có gom hết những từ ngữ, từ hoa mỹ nhất đến mộc mạc nhất, cũng không thể tả hết vẻ đẹp của Old Bagan. Đơn giản là vì, khi bạn đứng đấy, cả hơi thở nhẹ nhất cũng bị cướp đi, và ánh mắt bạn bị làm cho mê muội bởi sự cũ kĩ và bình yên, để môi quên cả mở lời. Đó là trùng điệp những ngôi đền với hình hài chẳng giống nhau, hững hờ đứng chen chúc giữa những bụi cây thấp, trải dài đến bao la và kết thúc ở những triền núi ẩn hiện trong mây khói. Đó là sự xâm chiếm của mặt trời, làm cho cả vùng đồng bằng bên bờ sông Ayeyarwaddy hiều hòa phải hứng chịu cảnh khô hạn quanh năm suốt tháng. Đó là những mảnh ruộng thoi thóp, cố tìm níu cái màu mỡ dưới chân nền văn minh của một đế chế… Dường như, con người càng nhỏ bé bao nhiêu, thiên nhiên càng khắc nghiệt bao nhiêu thì những điều vĩ đại lại càng dễ dàng xảy ra.

079 080 083 084

8 giờ sáng, 2 chiếc xe ngựa đã có mặt trước cửa nhà trọ, sẵn sàng mang cái lũ 6 đứa ồn ào và ngờ nghệch về Bagan đến gần với từng khung hình đã được xé nhỏ từ bức tranh kỳ vĩ vẫn còn thơm mùi hương mực mấy ngàn năm tuổi.

Bagan - 01

A – Winner Guest House
B – Nyaung Oo market
C – Shwezigon Paya
D – Tharabar gate
E – Shwesandaw Paya
F – Anada temple
G – Dhammayan Gyi temple
H – That Byin Nyu temple
I – Manuha temple

Điểm dừng đầu tiên là chợ làng Nyaung Oo, nằm ở phía Đông Bắc Old Bagan. Chợ khá nhỏ và chỉ mở cửa đến 4 giờ chiều. Người ta bán đủ thứ kiểu quà lưu niệm cho khách du lịch ở đấy. Bọn nó dừng lại ở một sạp quần áo, mua 6 cái áo với hình những chú voi được tạc trên phiến đá và dòng chữ Bagan – Myanmar, định bụng ngày mai sẽ thực hiện một kiểu ảnh tập thể, cái định chẳng bao giờ thành hiện thực đó.

2 chiếc xe ngựa lại lóc cóc trên con đường trải nhựa mới, rồi rẻ vào một con đường mòn nhỏ dẫn đến ngôi chùa Shwezigon (Shwezigon Pagoda/ Paya). Đây là ngôi chùa vàng đầu tiên được xây dựng trên đất Bumar và đã trở thành khuông mẫu cho những ngôi chùa sau này, trong đó có Shwedagon, Yangon. Shwezigon là ngôi chùa linh thiêng bật nhất vùng Bagan vì đây là nơi cất giữ xá lợi xương Phật và một bản sao của xá lợi răng thiêng liêng ở Kandy, Sri Lanka.  Người ta nói rằng, có 9 đặc tính kỳ diệu của ngôi chùa này mà cho đến bây giờ, khoa học vẫn không thể lý giải được nguyên nhân:

  1. Phần chóp mái lớn vẫn trụ vững mặc dù không hề được chống đỡ bằng trụ sắt
  2. Dù ở bất kỳ thời điểm nào, bóng của ngôi chùa không bao giờ đổ qua 4 bức tường xung quanh
  3. Những mảnh giấy Phật tử làm công quả để dát vàng xung quanh chùa khi rơi xuống từ đỉnh không bao giờ rơi ra ngoài 4 bức tường
  4. Dù lượng khách viếng thăm Shwezigon có nhiều tới cỡ nào thì họ cũng không hề cảm nhận được sự đông đúc trong 4 bức tường
  5. Vào những ngày trăng tròn, đã thấy những phần cơm cúng dường từ sáng sớm, mặc dù chưa thấy ai ghé thăm
  6. Tiếng trống từ bên này khuôn viên chùa không thể nghe thấy ở phía bên kia
  7. Từ xa, ngôi chùa luôn tạo ảo giác như là nó đứng trên một ngọn đồi
  8. Những trận mưa dầm dề kéo dài hàng tuần không thể làm nước đọng lại ở bất cứ góc nhỏ nào trên sân trong chùa
  9. Những cái cây Khayey và Chayar trong sân luôn nở hoa quanh năm suốt tháng

089 088 087

Nếu được biết những điều này trước khi đặt chân đến, có lẽ nó sẽ dành nhiều thời gian hơn để thực nghiệm những điều phi lý này. Thế nhưng, thật không may cho một cái đầu dở hơi, nó chỉ toàn thấy những cái vụn vặt khó chịu của cái gọi là “nền du lịch mở cửa”.

Có một hành lang dài dẫn vào khuôn viên chùa. Trên trần và hai bên tường là những bước phù điêu lớn, kể về cuộc đời hành đạo của Đức Phật. Đang cố tìm hiểu chuyện gì đang trôi trên những bức tường đó, nó bị thu hút bởi hai bà lão, đang ngồi nép bên góc hành lang. Thấy có người nhìn, một bà lão lấy từ phía sau lưng ra một cái gáo dừa và một điếu thuốc to, bắt đầu châm lửa, đưa lên miệng hút và ra dấu cho nó chụp. Ban đầu, nó nghĩ chắc đó là cách người địa phương tỏ ra thân thiện và kể cho du khách về văn hóa vùng miền của họ. Lia máy được vài kiểu ảnh, thì bà lão đưa tay ra và xin… vài đồng. Àh! Thay vì ở mấy vùng quê hẻo lánh ở Việt Nam, nó phải bảo mấy đứa nhỏ “Này nhóc, cho chị chụp tấm ảnh, chị cho vài nghìn mua kẹo nhé!”; ở đây người ta đã chủ động làm cái việc đấy trước khi nó kịp nhận ra. Vừa lấy trong túi 1,000 kyat đưa cho bà lão thì đã nghe tiếng con bạn la í ới ở đằng xa. Tội nghiệp! Con bé đang bị vây quanh bởi 2 đứa trẻ và 1 chị phụ nữ. Thấy nó lại, con bé lu loa “Giúp tôi với! Con bé này tự nhiên cài con bướm lên áo, người ta cứ tưởng là quà tặng í! Rồi nó xin tiền, bảo để nuôi em, nhà đông người lắm. Người ta đưa cho 1,000 kyat thì chê ít. Giờ chẳng thể đi được với bọn nó.” Luống cuống một hồi, nó bảo con bé đem trả lại con bướm và kéo tay nó đi vào trong. Đấy! Lúc đấy, làm gì có tí tâm trạng nào để xem mấy cái cây Khayey hay Chayar có nở hoa, hay bóng ngôi chùa có đổ ra ngoài tường thành… Lúc đấy, làm gì biết tiếp theo sẽ là chuyện gì ngoài việc tránh được càng nhiều người địa phương càng tốt!

201

Nhưng có lẽ, chẳng thể bực mình với Bagan được lâu. Tiếng vỗ cánh vồ vập, một đàn bồ câu òa ra, lượn đủ một vòng tròn quanh đỉnh bảo tháp, rồi đậu lại trên đấy. Một cảnh tượng tuyệt vời biết bao. Những đôi cánh bị nhuộm đen bởi cái nắng của Bagan, bất thình lình đổ ập xuống rồi bao phủ lấy ngôi chùa, nhưng vẫn để dành đấy vài khe hở cho ánh nắng lọt vào, cho mái chùa vàng rực sáng lên, cho không khí bị khuấy động mà rung những tiếng chuông mềm mại ngắn ngủi. Như thể một cơn bão từ đâu kéo đến vây kính Shwezigon, rồi bị chính cái linh thiêng huyền diệu của ngôi chùa cảm hóa, dịu xuống và chiềm vào lòng của chốn đình viện thâm nghiêm. Những con chim, chúng vô tư chuyền từ mái đền này sang mái đền khác, rồi từ đấy, chúng chẳng thèm bay nữa, để mặc những kẻ chậm tay cứ thế tiếc hoài khi đã bỏ lỡ.

085

202 203

Nhưng có lẽ, Bagan càng tỏ quyền năng của nó bao nhiêu thì con người lại càng tìm cách biến đó thành một màn trình diễn mà trục lợi. Đang mải mê nhìn ngắm những bức trạm trổ sống động trên các mái đền, một bàn tay với tới nó. Chưa kịp biết là gì nhưng nó đã phản xạ rất nhanh, như thể đang chơi trò vòng vịt, không để bàn tay kia chạm vào. Bàn tay bị treo lưng lửng, cùng với một ánh mắt kinh ngạc và cái miệng há hốc chưa nói tròn câu. Thì ra cậu ta đang muốn cài cho nó một con bướm, lại một con bướm khác. Nó cũng kinh ngạc, vì không ngờ chỉ với một bài học ngắn ngủi ban nảy mà nó lại có thể phản ứng một cách tự nhiên đến như vậy, vừa buồn cười, vừa ngớ ngẩn nhưng tốt cho nó và thuận theo ý nó. Thế nên chẳng có lý do gì để phàn nàn khi người dân ở đây chọn cách phản ứng với nghèo đói, với sự tò mò ngờ nghệch của khách thập phương như cách họ làm với nó, với con bạn nó, hay nhiều người khác nữa. Điều đó tốt cho họ, thuận theo ý họ, dù chỉ trong ngắn hạn. Nó vừa kịp nói câu “Không, cám ơn!” rồi bỏ đi. Ừh, đến lúc phải đi rồi.

086

204

Thật tình là không tài nào nhớ nổi lộ trình ngày hôm đấy là từ A đến B rồi đến C, hay từ D qua F rồi trở về E. Tất cả những cái điểm đến chỉ ngờ ngợ qua những bức ảnh và hình hài của các ngôi đền. Và hình như ngôi đền Winido (Winido Temple) là cái ngờ ngợ tiếp theo. Winnido là một nhóm các ngôi đền. Những người đến Old Bagan, ít ai được ghé đến đây, bạn không thể tìm thấy vị trí của chúng trên Google map, những thông tin về chúng trên mạng cũng chỉ là những dòng mô tả ngắn ngủi và giống hệt nhau. Kiến trúc bên ngoài của Winido không mấy đặc sắc so với những ngôi đền khác, có khi lại còn khá nhỏ. Thế nhưng, những bức vẽ được trang trí tỉ mỉ trên khắp các mặt ở phía trong ngôi đền lại kể một câu chuyện hùng vĩ hiếm có của một nền văn minh. Người ta không cho phép chụp ảnh. Có lẽ vì thế mà Winido lại càng trở nên xa lạ hơn với du khách thập phương.

175

091 090

2 chiếc xe ngựa lại tiếp tục chạy, chậm chạp và mệt mỏi. Bọn nó cũng bắt đầu mệt mỏi, vì nắng, vì bụi, vì chán. Rồi chúng nó bắt đầu hát. Bất cứ bài nào xuất hiện trong đầu, bất cứ bài nào chúng nó muốn nghe, bất cứ bài nào mà khung cảnh của Bagan gợi nhớ cho chúng nó. Không bằng một giọng thánh thót, mượt mà để chinh phục người nghe. Mà bằng một thứ hợp âm đinh tai, chói óc, phá tan sự im lặng. Mọi người xung quanh nhìn theo chúng nó, anh phu xe lẳng lặng cầm dây cương, phóng nhanh. Và thật lạ, thứ âm thanh đó làm chúng vui phải biết, con đường vì thế mà ngắn biết bao nhiêu. Đây, chúng nó đây. Đứng trước Ananda (Ananda Temple) kỳ vĩ.

092

093

Nếu như Shwezigon hào phóng thết đãi con mắt người dưng bằng sự lộng lẫy, nguy nga của những kiến trúc ngoại thất cầu kì, tinh xảo, thì ngôi đền Ananda lại là một thể đối lập. Đó là sự vĩ đại của một không gian đóng, sự bủa vây của những một thế giới tâm linh tách biệt. Ngôi đền này chính là biểu thị cho trí tuệ vô thượng vô biên của Phật. Và hãy xem, cách người xưa đã làm, để hình hài khóa cái khái niệm mông lung, vô chừng và khổng lồ ấy! Một mái vòng cao vuốt, cắt hẳn một khoảng không lớn và đưa nó vào bóng tối. 4 bước tượng Phật vàng đứng đồ sộ, xếp tựa lưng vào nhau, sừng sững nhìn ra 4 hướng từ tâm đền. Trên tường, hàng trăm bức tượng với vô số hình thái tịnh tu khác nhau, rất hiền hòa nhưng đủ uy nghiêm để không cánh tay nào dám với tới. Những luồng sáng chen chân nhau từ những ô cửa lớn trên cao, những ngọn nến lập lòe phản chiếu trên lớp kim loại màu vàng sáng bóng, những ánh đèn được uốn nắn và dừng lại tại ánh mắt khải huyền của Đức Thế Tôn, những dòng khói nhang nghi ngút… Bước chân người lữ hành lướt nhẹ trên nền đá lạnh lẽo, mắt tìm theo ánh sáng, đó là ngõ cụt, tâm hướng theo bóng tối, một chặn đường mới hiện ra… Thật thông minh! Cái vô cực trong hữu hạn. Cái ánh sáng trong tâm tối. Cái uyên thâm trong phàm tục.

094

DSC_4686

Chiếc xe ngựa vẫn cọc cạch gõ trên đường, thứ âm thanh khó chịu vẫn tiếp tục phát ra từ 3 cái miệng dở người, bằng một thứ ngôn ngữ dị thường, chuyến đi vẫn tiếp tục, và dừng lại ở ngôi đền Manuha (Manuha Temple) – một hình thể khác mang tình cảm và tâm tư của chính vị Phật tự tạc tượng cho mình. Được xây dựng vào khoảng năm 1905, nét độc đáo của Manuha chính là pho tượng Phật nằm, dài 40m được đặt ở hậu điện và khối kiến trúc được xây bằng sa thạch với những hình ảnh trạm trổ độc đáo. Nó thích những hình đó, có một nét gì đấy rất giống những ngôi đền ở Angkor Wat, không phải là những vị nữ thần bán khỏa thân, mà là những hình voi, hình thú và hoa lá. Duy chỉ có một điều nghĩ mãi vẫn không hiểu, tại sao người xưa lại cố đặt những bức tượng khổng lồ vào những không gian quá nhỏ hẹp như vậy, chỉ cần dựa lưng vào tường, đưa tay ra là có thể chạm được mặt Ngài, ở Manuha và ở Ananda cũng thế. Hãy tưởng tượng nếu có một ngày Đấng Thế Tôn nhập thể vào một trong các tượng Phật, thì e rằng, chỉ một hơi thở nhẹ của Ngài cũng đủ làm cho lớp tường kia vỡ tan. Họ không hề thiếu không gian, chắc chắn rồi, và khi đã tạc được những bức tượng to lớn đến như vậy thì hẳn nhiên là họ không hề thiếu sức. Phải chăng họ đang phô diễn tài nghệ của mình, như việc đặt một chiếc thuyền căng gió trong một chiếc lọ thủy tinh cổ vịt.

096 095

Ở đây rất náo nhiệt. Không phải kiểu náo nhiệt của khách du lịch, không phải kiểu đấy, mà là cái kiểu mấy người bản địa cứ rôm rả chào hàng. Có một đứa trẻ, tay cầm một xấp mấy bức tranh, bảo do chính nó vẻ, nguệch ngoạc bằng màu sáp, trên khổ giấy của tấm postcard. Con bé rất xinh, nhưng chẳng thấy sự ngây thơ hồn nhiên trong cái hình hài đó. Con bé chìa tay ra ngã giá “Chỉ $1 thôi! Nhà con nghèo lắm!” Ah ha! Người ta nói cái khó ló cái khôn chính là đây. Nghe thật châm biếm. Hãy khoan, đừng vội mà đánh giá như thế chứ, biết đâu đấy là những nét vẽ chạm ngõ của một thiên tài bẩm sinh sau này! Cũng phải. Thế thì hãy nhìn mấy đứa trẻ ở đằng kia xem, cả đằng kia nữa! Ở đây lắm thiên tài thật. Những bức vẽ chẳng giống nhau, nhưng đâu đấy vẫn là câu chuyện của một đứa bé tươi cười với chú mèo trên tay đang đứng cạnh dòng sông trước nhà, ngọn núi sau lưng và mặt trời trên đỉnh. Cũng chẳng biết có phải do chúng nó vẽ không, hay chỉ là chút trẻ thơ bị đánh cắp dể gạ lòng người ta. Nghèo có phải là cái tội, để người ta dạy trẻ nhỏ cách than thở về nó với người lạ? Cái khó chẳng bao giờ làm nên một cuộc đời cả, mà chính là những câu chuyện xung quanh nó, để dẫn đến cái khôn, hay cái khôn lỏi, hay cái tuyệt vọng. Và chủ nhân của cái khó đó mới chính là người thiếp lập nên thái độ của người ta về họ. Kính trọng, tiếc rẻ, khinh thường. Tùy thuộc vào họ hết. Cũng giống như câu chuyện tự tạc tượng cho mình vậy, hoặc là trở thành hình mẫu thiêng liêng trong lòng chúng sanh, hoặc là cứ trơ trơ ra cho người đời phỉ nhổ vào mặt.

Bagan - 05

Chuyến xe thổ mộ lại tiếp tục hành trình, cặm cụi trên những con đường đầy bụi đất, giữa một âm thanh phiền toái, rồi đổ xịch trước đền Dhammayan Gyi (Dhammayan Gyi Temple) – ngôi đền lớn nhất tại Bagan. Nền văn hóa nào, triều đại nào cũng không thể tránh khỏi câu chuyện tranh giành ngôi báu. Và rồi sẽ có những chốn thanh tịnh, nơi họ tìm đến sức mạnh của thần linh để gọt rửa những tội ác đã gây ra. Dhammayan Gyi được xây dựng là bởi mục đích đó, để vua Narathu xám hối vì đã giết cha, anh và vợ. Sau đó lại thêm nhiều nô lệ nữa bị vua xử tử vì làm phật ý ông, và chính ông cũng bị ám sát sau khi ngôi đền được hoàn thành. Được xây dựng hoàn toàn bằng gạch nung, ngôi đền rực rỡ giữa trời xanh, như một quả đồi lớn trồi lên từ lòng đất, giũ mình cho rơi hết cát bụi trần gian và hiện ra trong bộ áo hoàn mỹ nhất. Thế nhưng câu chuyện ảm đạm của quá khứ đã khiến cho Dhammayan Gyi trông rất buồn, nỗi buồn chết chóc. Rồi ngôi đền trở thành nơi trú chân cho loài dơi quạ, khiến cả không gian bên trong bị tẩm uế bởi một mùi khó chịu.

099

205

Trời gần về chiều, nó ghé lại ngồi bên dưới một tán cây lớn phía ngoài đền, để hứng tí gió và lật lại mấy tấm ảnh vừa chụp. Có 2 thanh niên tiến lại phía nó, một người cầm theo mấy bức tranh cát – đặc sản văn hóa của Bagan – một người cầm một quyển tập học sinh đã quăn góc. Thấy nó tỏ ý không muốn mua tranh, chàng trai kia ngồi gần lại, mở quyển vở và khoe mấy câu do khách tứ phương viết tặng, kèm theo một tờ tiền từ các nước bản địa xa xôi. Anh ta hào hứng muốn xem tiền Việt Nam và muốn xin một tờ để sưu tập. Thế là nó lấy ra tờ 2 nghìn (Thật rõ ngốc! Đã rõ biết anh ta muốn gì. Mày hi vọng tờ 2 nghìn sẽ làm vừa lòng anh ta sao!!!). Sau khi biết mệnh giá của tờ tiền, anh ta vội trả lại “Không! Không! Mày có tờ TO hơn không!”. Lần này nó lấy ra tờ 20 nghìn, chưa kịp đưa cho thì gã đã la oai oải “Không! Không! Tờ này tao có rồi! Cho tao tờ TO hơn í!”. Lúc này thì nó bắt đầu bực mình, cất tiền vào ví và xua gã đi “Xin lỗi mày nhé! Tao chỉ có từng đấy tiền Việt Nam thôi!”. Mặc cho gã ngồi đó nó lại cắm đầu vào chiếc máy hình.

Chỉ chừng vài giây thì một chị lại bắt chuyện. Chị bán thứ gì đấy mà nó không tài nào nhớ nổi. Không mua, chị bắt đầu xin. “Sợi dây chuyền của mày đẹp quá! Tao thích lắm!”. Ừh thì, cuộc đối thoại chuyển sang hướng này cũng tốt. Nó bắt đầu kể dài dòng từ đâu mà nó có, vì sao sợi dây này lại quan trọng… “Cho tao đi!” Câu nói cắt ngang mạch chuyện. Chưng hửng. Chắc chị không ý thức được rằng trên mặt dây là ký tự của một tôn giáo khác – cây thánh giá – và rằng nó chỉ vừa mới kể cho chị nghe nó quý sợi dây nhiều thế nào. Làm sao có thể cho được. “Cái nhẫn này! Cho tao đi!”. Nó đưa chiếc nhẫn về phía chị: “Có thấy cây thánh giá nhỏ xíu này không? Không cho được!”. Chị lại cố nhìn lục trên người nó xem có gì xin tiếp không: “Cái máy hình này! Chụp hình tao đi!”. Ừh, cái này dễ này, rồi nó chụp cho chị ta 1 kiểu và đưa cho chị xem. “Cho hình tao đi!” Lúc này thì nó chẳng buồn tức tối chị làm gì nữa mà phá lên cười. Hóa ra chị ta tưởng đó là 1 cái máy kiểu Polaroid, chụp ảnh lấy liền, nên mới bảo chụp. Nó lắc đầu “Không cho được!”. Nhìn nó nhoẻn miệng cười, chị ta bất giác phát hiện ra: “Son môi! Cho tao son môi đi!”. Lần này thì nể chị thật: “Cũng không cho được!”. Ừh, một thỏi son thôi mà. Tiếc gì! Nhưng mà nó cần thỏi son đó hơn chị. Khách du lịch sẽ thích vẻ mộc mạc với cái má nguệch ngoạc Thanaka của chị hơn cái môi đỏ nữa mùa từ thỏi son của một đứa dở hơi mới cho. Nó muốn biết vì sao chị ta cứ nhất thiết phải xin cho bằng được bất kỳ thứ gì từ khách du lịch đến thế. Định hỏi nhưng lại thôi, vì sự tôn trọng, vì sự yên thân. Từ phía xa, một anh bạn gọi với lại: “Này! Giúp anh với! Lỡ dại bảo nó cho xem mấy cái postcard nên nó theo đến giờ. Mua đại một xấp cho xong. Cái nào đẹp hơn…”

097

100

098

Bầu trời bắt đầu chuyển màu, không khí dịu hẳn. Anh phu xe tháo tấm bạc trên đầu ra để gió tha hồ cuốn tung tất cả. Đã cuối ngày, và hành trình sẽ kết thúc tại Shwesandaw: hoàng hôn. Vẫn một bức tranh như mê hoặc lòng người, dù không có một mặt trời đỏ hỏm ở cuối đường Tây, không có lớp bụi mờ phủ lên các chùa và đền đài, không có mấy quả kinh khí cầu treo lơ lững giữa hư không… Du khách cứ ngồi đấy, thưởng cảnh đến chán chê, đến mê mệt, đến cả khi chỉ còn một thứ ánh sáng từ những cái đèn của vài ngôi đền xa hơn. Đêm xuống, Bagan không có đèn đường. Chỉ có mấy ánh đèn phát ra từ những hàng quán hai bên đường. Bagan lại trở về tĩnh mịch, trừ những bài hát của chúng nó. Có tiếng người hát theo, từ phía lề đường, chắc chắn không phải tiếng Việt. Có người vỗ tay ở một đoạn đường khác, từ phía lề đường, chắc chắn cũng không phải người Việt. Thì ra giọng hát của chúng nó cũng không đến nổi khó chịu, và người dân Myanmar hiền hòa đón nhận tất cả. Dừng lại trước của nhà trọ, nó tạm biệt anh lái ngựa: “Này! Xin lỗi anh vì thứ âm thanh từ sáng đến giờ nhé!”. Anh ta cười xòa: “Không sao đâu. Nghe sáng giờ quen rồi! tụi bây vui mà!”. Rồi anh quất ngựa đi…

101 102 104 103

Bữa tối hôm đó có một cuộc gặp gỡ khá thú vị. Bọn nó gọi chú là “anh già”, có khi là “chú Polo xanh” – người đàn ông nó gặp trên chuyến đò vượt sông Ayeyarwaddy từ làng Inwa trở về Mandalay. Chú ta có vẻ đã rất chú ý đến nó từ lúc trên truyền và thế là đến bắt chuyện làm quen. Sau đó, nó lại tình cờ gặp chú ấy trên cầu U Bein. Lần này thì nó cố tình tránh mặt, vì không mấy thiện cảm với mấy chú Tây già. Thiện cảm sao cho đành khi cứ mỗi lần gặp 1 chú là y như rằng chú í lại nghĩ nó là thứ xởi lởi lả lơi và có những hành động khó chịu. Cũng may, lúc nào cũng có mấy anh trai vạm vỡ cạnh bên che chở. Và cái chuyện có tình cờ gặp ai đó 1 hay 2 lần trên đường đi du lịch cũng là chuyện thường ở xứ huyện thôi, chẳng nên bận lòng. Thế mà, tối đấy nó lại gặp chú ấy, lần thứ 3, khi chú ta đang lóng ngóng tìm chỗ ăn tối. Nghĩ bụng, chú ấy cũng chẳng làm gì xấu để phải mang cái ác cảm do người khác tạo ra, thế nên nó mời chú ăn cùng, đằng nào cả bọn cũng chỉ mới đặt mông xuống ghế.

Chú Polo xanh không có gì đặc biệt, nhưng chú í có một biệt tài là làm cho nó cảm thấy ngớ ngẩn. Ngớ ngẩn vì chẳng hề biết người đàn ông mình vừa mời ăn tối và 2 hôm trước còn cho email và số điện thoại (bị hại) tên gì. Chỉ biết chú í là… chú Polo xanh (và cả 3 lần gặp chú í đều mặc cùng 1 chiếc áo Polo xanh). Ngớ ngẩn vì chẳng hề có tí kiến thức gì về 5 người bạn đồng hành với nó suốt mấy ngày qua. Chỉ biết bọn nó có 6 người, 3 người ở Sài Gòn, 3 người ở Hà Nội, tên của họ và chuyến đi này là “cuộc gặp đầu tiên” dài nhất nó từng có. Ngớ ngẩn vì phải chăng là nó dở hơi đến nỗi bỏ qua các nghi thức giao tiếp thông thường là hỏi tên, tuổi và nghề nghiệp… Thế nên nó ấp úng khi chú ta hỏi bọn nó làm nghề gì, và cảm thấy như được khai sáng khi cô bạn ngồi cạnh cứu bồ.

076

166

Chú Polo xanh là giáo viên của một trường trung học ở Canada. Chú đã từng có thời gian dài dạy tiếng Anh ở Bắc Triều Tiên, nhưng do một số biến động chính trị, thế là chú trở về nước, dạy học cho mấy đứa con nít, sống cảnh độc thân, và bây giờ dành ra 1 năm để đi vòng quanh các nước châu Á. Hầu như cuộc đối thoại chỉ có chú và nó. Bọn nó trao đổi đủ thứ chuyện, từ những cái rất thời sự như lối sống của giới trẻ, quan điểm về du lịch và sự độc lập, cho đến những chuyện chẳng liên quan như nhà cô bạn ngồi kế… có mấy con chó rất to. Chốc lát, có 3 cô gái chạy đến, vừa mừng rỡ, vừa ngạc nhiên khi nhận ra chú. Hóa ra họ ở cùng nhà trọ với chúng nó. Một điều nó rất thích khi đi du lịch ở Myanmar là những cuộc gặp gỡ tình cờ như thế, giống như cả xóm cùng đi. Chẳng cần biết lịch trình của nhau, nhưng thể nào rồi cũng sẽ gặp lại ở đâu đó, rồi hỏi chuyện “Mày có ghé chỗ đấy chưa? Thật tuyệt vời phải không!”, có khi chỉ gật đầu nhoẻn miệng cười 1 cái hoặc có khi chỉ nhìn lướt qua rồi lẩm bẩm “Cái lũ ranh ở Bagan”…  Rồi những cái nhỏ xíu lại trở thành đặc điểm nhận diện của nhau:

–       Anh Nhật 2 năm: anh chàng người Nhật dành ra 2 năm để du lịch khắp nơi

–       Chú kaki xám: một chú mặc… cái quần kaki màu xám

–       Anh Chocopie: anh chàng cùng nhà trọ có… hộp Chocopie trong balô

–       Thằng Hongkong: cái thằng người HK nói nhiều

–       …

Rồi tất cả những cái nhỏ xíu đó đã trở thành kỹ niệm, bị quên mất hoặc có khi chợt hiện ra thú vị biết bao. Sau này, nó còn gặp lại chú Polo xanh một lần nữa tại Inle, trước khi từ biệt Myanmar.

 

Advertisements

One thought on “Bumar – Phần IV – Bagan – Miền đỏ lửa

  1. Có một phần cần phải góp ý về lỗi chính tả, t ko biết là do lỗi đánh máy hay là do m cố tình viết như vậy, nhưng đôi chỗ viết sai chính tả thấy sao sao á.
    Thích cái cách m viết thật về những gì đã diễn ra với cả đoàn đi và những tình tiết nhỏ của những người dân sống xung quanh khi tiếp xúc với khách du lịch.
    Cảm nhận đầu tiên khi t đọc bài này là t thấy được chút ít bao dung của m dành cho những con người nghèo khó đó, chứ không phải là sự nóng giận và muốn tránh xa họ càng nhanh càng tốt. Cũng đủ thấy sự kiên nhẫn của m khi muốn được hiểu về họ, dù là trong phút chốc bị làm phiền. Ít ra thì những chuyến đi như thế này cũng làm m bớt đi phần hay nóng tính của mình nhỉ. Vậy cũng đáng mừng cho sự tiến bộ này.
    Về ý, về ngôn từ thì khỏi phải chê nữa hén. Sự đầu tư, trau chuốt để viết nhiều và sắc sảo như một ký sự thì cũng đáng để nhận nhiều lời khen (đã được nghe).

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s